GIẤC MƠ XANH GIÁ BAO NHIÊU ?

Trong những ngày thành phố Hồ Chí Minh căng mình chống dịch, thỉnh thoảng tôi đọc thấy trên báo một vài bài viết về một qui định gì đó liên quan bảo vệ môi trường. Rồi sáng nay, chủ nhật 10/10, tôi được “điểm tâm” bằng hai tin nhắn. Một ông bạn, chủ doanh nghiệp thủy sản An Giang nhắn “mấy tháng qua “3 tại chỗ” muốn đuối rồi, nếu được tặng thêm món quà, lượng nước xả thải 200 m3 / ngày phải làm quan trắc tự động là chắc…tự động đóng cửa luôn quá”. Một bạn trẻ thì nói nửa đùa nửa thiệt “ti vi lại bảo mình mơ, mơ không tốn tiền, nhưng giấc mơ xanh lại quá đắt tiền”
“Giấc mơ xanh” là gì, giá bao nhiêu mà doanh nghiệp bạn tôi lại than quá đắt tiền?
Đang cao điểm chỉ đạo của Thủ tướng là phải cải cách thủ tục hành chánh, bản dự thảo của nghị định luật Bảo vệ môi trường được Bộ chủ quản trình làng là đã cải tiến mạnh thủ tục: Tích hợp 7 loại giấy phép, giảm 18 loại thủ tục hành chính. Tôi xem kỹ, ở đây chỉ có tiền kiểm mà không có hậu kiểm và doanh nghiệp phải nộp lại nhiều hạng mục mà họ đã cung cấp trong hồ sơ xin duyệt đánh giá tác động môi trường. Áp vào thực tế thì dù về hình thức có “tích hợp” nhưng phát sinh nhiều thủ tục hành chính khác, không rõ ràng, dễ bắt đầu cho cơ chế xin cho như: không có qui định thời gian thẩm định, thời gian thành lập đoàn kiểm tra, số lần yêu cầu bổ sung và các dự án đã hoạt động rồi cũng phải đi xin lại giấy phép môi trường như dự án mới. Thấp thoáng bóng dáng cơ chế xin cho ở đây rồi!
Trong giấc mơ xanh có một cột mốc thời gian đáng chú ý: 2025. Bốn năm nữa, không xa. Phải bảo đảm sau 2025, không lưu hành và sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần và bao bì nhựa khó phân hủy tại các kênh phân phối. Trời, như vậy, đến năm 2026 các nhà máy sẽ đóng cửa hàng loạt vì không có bao bì. Ngay EU qui định cụ thể loại nhựa nào sử dụng một lần nào thì bị cấm (chứ không phải tất cả) còn bao bì nhựa khó phân hủy thì không cấm mà yêu cầu nhà SX phải trả phí tái chế. Qui định này thật xa lạ với thực tiễn Việt Nam. Cũng như một qui định nữa, cũng hiệu lực từ năm 2025, lượng nước thải từ nhà máy là 500 m3/ngày là phải lắp quan trắc tự động. Chi phí đầu tư và vận hành rất tốn kém mà không thấy nêu cơ sở khoa học nào để đòi hỏi như vậy. Chỉ tính số lượng nước thải ra thì rửa cá của bạn tôi cũng độc ngang bằng nước thải của khai khoáng, sơn mạ?
Ngoài những tốn kém gián tiếp, còn một khoản tốn kém lớn là chi phí phải đóng góp liên quan đến tái chế. Và tìm hồi lâu tôi thấy có một cái tên mới, VĂN PHÒNG EPR sẽ thu mọi đóng góp tài chính để tái chế , xử lý chất thải. Bộ Tài nguyên Môi trường giải thích về sự ra đời của văn phòng EPR: Để đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quản lý sử dụng tiền bạc doanh nghiệp về tái chế. Nghe có lý nhưng ngặt nỗi cái lý lớn nhất là Nghị định không thể đứng trên luật: Văn phòng EPR không hề được qui định trong luật Bảo vệ môi trường.
Qui định chi phí quản lý, tổ chức tái chế (Fm) là 5% để chi cho hoạt động của văn phòng EPR bằng tiền của các doanh nghiệp nộp, theo ý kiến nhiều doanh nghiệp là không phù hợp. Dự thảo nghị định lại dùng từ “ĐÓNG GÓP” chứ không phải PHÍ, có nghĩa, khoản tiền này nằm ngoài ngân sách nhà nước, việc thu chi không phải chịu sự quản lý của nhà nước theo luật quản lý phí và lệ phí. Ngay cả Quỹ BVMT doanh nghiệp cũng thấy cần một cơ chế giám sát, kiểm toán cho hoạt động để đảm bảo việc sử dụng quỹ đúng mục đích và minh bạch. Ngoài ra, khi cần chi cho hoạt động xử lý chất thải sau khi đã “đóng góp” tài chính cho văn phòng EPR, Quỹ BVMT, doanh nghiệp phải lập hồ sơ xin xét duyệt. Việc xét duyệt lại không được qui định gì , nên càng nuôi mầm mống xin – cho.
Trong “giấc mơ xanh” hướng về tương lai tươi đẹp đó, rất đáng ngạc nhiên là ”giấc mơ” lại từ chối Kinh tế tuần hoàn? Bởi vì quy cách tái chế được đưa ra là rất cơ bản và hạn chế, sẽ gây ra cản trở cho việc thực hành và áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn đang được khuyến khích trong Luật BVMT, hạn chế sự sáng tạo của doanh nghiệp và của cả một ngành công nghiệp non trẻ là ngành tái chế. Doanh nghiệp nên được chọn nhiều hình thức tái chế khác nhau chứ.
Cách tính mức “đóng góp” lại đang xem bao bì, sản phẩm khi thu gom để tái chế là rác thải. Điều này lần nữa cũng đi ngược lại với mô hình kinh tế tuần hoàn khi các bao bì, sản phẩm này là nguồn nguyên vật liệu để sản xuất ở chu trình mới trong mô hình kinh tế tuần hoàn, và có giá trị thương mại, là nguồn thu nhập của doanh nghiệp. Các bao bì dễ tái chế và có giá trị thương mại cao như: thùng carton, lon nhôm, chai thủy tinh, thùng nhự, nếu tính như hiện nay thì doanh nghiệp không chỉ mất đi nguồn thu nhập này, trái lại, còn phải chi trả thêm chi phí để đóng góp vào Quỹ BVMT là hoàn toàn không hợp lý, làm tăng giá thành sản phẩm.
Tóm lại, có nhiều khoản phái “đóng góp” mà không thấy nói tới cơ chế gì để đảm bảo thực hiện giấc mơ Tương lai xanh đó, vì nghị định không thấy có cơ chế triển khai, mà chỉ có cơ chế thu tiền.
Giấc mơ xanh với các doanh nghiệp không phải là mơ. Thấy rất rõ chuyện nhọc nhằn ngao ngán với XIN-CHO. Cũng thấy ơn lạnh với chuyện thêm phí, thêm thủ tục. Không thấy khung pháp lý chặt chẽ của các qui định và cũng không có biện pháp thực thi. Những nỗi lo này hôm nay, ngày 10/10, tròn một tháng sau ngày Nghị quyết 105 của Thủ tướng ban hành (ngày 9/9) về hỗ trợ doanh nghiệp đã đi vào thực tế cuộc sống doanh nghiệp theo cách nghĩ như thế này sao? Tròn một tháng, “Giấc mơ xanh” coi bộ còn xanh lắm, còn rất xanh là đằng khác.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

Up ↑

%d người thích bài này: